NGHIÊN CỨU TIÊM PHÒNG VẮC-XIN

Hiểu các yếu tố xã hội xung quanh nhận thức, thái độ của cộng đồng địa phương đối với việc tiêm phòng.

Tổng quan:

Chương trình tiêm chủng mở rộng (EPI) được giới thiệu vào Việt Nam năm 1983, tiếp theo là kế hoạch phòng chống uốn ván ở bà mẹ và trẻ sơ sinh vào năm 1995: cả hai nhằm mục đích loại bỏ các bệnh có thể ngừa được bằng vắc-xin, bao gồm uốn ván ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Độ bao phủ của vắc-xin này được báo cáo là rất cao nhưng tỷ lệ mắc uốn ván sơ sinh vẫn còn xảy ra ở mức thấp và thỉnh thoảng xảy ra các dịch bệnh khác như bệnh bạch hầu và sởi cho thấy có những trở ngại đáng kể trong chương trình tiêm phòng.

Nghiên cứu gần đây của Trung tâm y tế dự phòng tại địa phương và OUCRU cho thấy các cộng đồng dân cư thiểu số ở nông thôn là nơi có độ bao phủ tiêm chủng thấp nhất và những vấn đề về văn hoá đặc trưng và yếu tố đạo đức có thể liên quan đến việc chấp nhận và tiêm phòng vắc-xin, góp phần vào những khó khăn thực tế trong việc thực hiện tiêm chủng cho cộng đồng ở vùng xa. Chúng tôi đang tiến hành nghiên cứu để tìm hiểu những hạn chế, thái độ, những vấn đề văn hóa xung quanh việc tiêm chủng vắc-xin của hai vùng nông thôn thuộc tỉnh Bình Phước và Đắk Lắk.

Việc hiểu rõ hơn về nhận thức, thái độ và những vấn đề văn hóa xung quanh việc tiêm phòng uốn ván có thể cho phép những chương trình cung cấp vắc-xin thực triển khai hiệu quả hơn và cũng cho phép chúng tôi hiểu thêm về những do dự khi tiêm phòng tại Việt Nam. Năm 2013, báo cáo phương tiện truyền thông về những tác dụng phụ sau khi tiêm chủng đã làm giảm 35% vấn đề tiêm phòng vắc-xin mở rộng EPI tại Việt Nam. Những hậu quả về vấn đề nầy vẫn chưa được biết rõ nhưng có khả năng sức khỏe cộng đồng bị ảnh hưởng đáng kể. Khi việc phân phối vắc-xin hiện đang tiến hành rộng rãi thì việc nâng cao nhận thức về vấn đề tiêm chủng là điều quan trọng để giải quyết những quan niệm sai lầm và thực hiện các biện pháp sức khỏe công đồng hiệu quả.

Cách thực hiện:

Nghiên cứu định lượng và định tính:

Dựa trên những các hoạt động kết nối cộng đồng (PE) trong giai đoạn nghiên cứu, những phát hiện này sẽ được thiết kế để truyền đạt về vấn đề tiêm chủng. Những hoạt động PE sẽ được nhân viên y tế địa phương tiến hành trước chương trình tiêm chủng mỗi năm. Các hoạt động này có thể bao gồm thiết kế poster bằng hình ảnh giới thiệu vắc-xin , tờ rơi bằng tiếng địa phương và các cuộc gặp gỡ cộng đồng, họp với nhóm cộng đồng địa phương hoặc những phim ngắn với học sinh. Hoạt động PE sẽ có chi phí thấp để mà chúng tôi có thể triển khai sang các khu vực khác nếu được chứng minh là có hiệu quả.

Đánh giá các hoạt động kết nối cộng đồng:

Hiệu quả của việc kết nối cộng đồng sẽ sẽ được đánh giá thông qua so sánh tỷ lệ sử dụng vắc-xin giữa 20 xã được tăng cường PE và 20 xã với các hoạt động xúc tiến thường xuyên được thực hiện bởi các dịch vụ y tế địa phương. Giai đoạn thứ hai là phỏng vấn phụ nữ và nhân viên y tế tham gia chương trình tiêm chủng sẽ được tiến hành để tìm hiểu những kinh nghiêm của họ về chương trình nâng cao.

Nổi bật:

  • Theo thống kế, sẽ có hơn 500 phụ nữ tham gia cuộc khảo sát.
  • Có hơn 90 phụ nữ và các bên liên quan sẽ được phỏng vấn.
  • Hoạt động kết nối với cộng đồng sẽ được tiến hành tại 23 xã thuộc tỉnh Bình Phước, Đắk Lắk